Ông " Vua " Kép

“Vua” cà phê 
 
 Sinh ra và lớn lên ở vùng đất Lộc Phát (Bảo Lộc), năm 1986, lúc 18 tuổi, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Nguyễn Đăng Trung rời gia đình vào thôn Tiền Yên để lập nghiệp. Lúc đó, tại vùng đất hoang sơ này, ông được cấp 0,6ha đất để làm nhà ở và sản xuất. Vừa làm, ông vừa khai hoang và mở rộng thêm dần diện tích để xây dựng trang trại. Hiện nay, tổng diện tích trang trại của ông đã lên đến 17ha.
 
Ban đầu, ông Nguyễn Đăng Trung cùng vợ là chị Trần Thị Mỹ Dung, chập chững khởi nghiệp bằng “nghề” trồng dâu, nuôi tằm. Sau đó, vợ chồng ông chuyển dần sang trồng chè, cà phê và sầu riêng theo cách “lấy ngắn, nuôi dài”. Đến khi có “của ăn, của để” và chè, cà phê đã cho thu hoạch, ông bỏ hẳn nghề trồng dâu, nuôi tằm để tập trung những cây trồng còn lại. Sau một thời gian, cho dù 5ha chè cành và sầu riêng (trồng xen) cho thu nhập khá cao, nhưng đối với ông, cái khó nhất trong nghề trồng chè là công lao động; hơn nữa, xuất phát từ thực tế, giá cả và thị trường, nên vợ chồng ông đồng lòng chuyển dần toàn bộ diện tích chè và sầu riêng sang trồng cà phê, bơ và tiêu. Trong số 17ha đất tại trang trại của ông, hiện đã sản xuất ổn định 3 loại cây trồng: 15ha cà phê, 1ha tiêu và 1ha để làm vườn ươm các loại cây giống. Trong đó, 10ha cà phê đã trồng xen bơ ghép.
 
Người dân ở đây rất khâm phục ông Nguyễn Đăng Trung, một nông dân rất thông minh, tháo vát, năng động và chịu khó. Ông nhạy bén nắm bắt được thông tin qua thực tế, qua mạng, qua sách báo và qua các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Ông đã không ngần ngại khi làm thử nghiệm việc cải tạo vườn cà phê, bằng cách ghép chồi và trồng thử cà phê giống mới (giống đầu dòng cao sản). Đến năm 2003, ông là nông dân đầu tiên ở huyện Bảo Lâm mạnh dạn cải tạo đại trà toàn bộ diện tích cà phê tại trang trại, sau khi đã ghép và trồng thử nghiệm thành công, năng suất cà phê tăng lên rõ rệt. 
 
Cà phê cao sản có nhiều loại giống, nhưng theo ông, phải thận trọng vì nó còn phụ thuộc vào từng vùng đất và phương thức canh tác để chọn giống thích hợp. Ông cho chúng tôi biết: “Tôi đã thử nghiệm ghép và trồng các giống cà phê cao sản đầu dòng, như TR4, TR9, TR11, TS1, TS2, TS3… Nhưng đối với vùng đất Lộc Đức (Bảo Lâm) nếu cây cà phê được bấm ngọn, tạo tán thì tôi chọn 2 giống cà phê chủ lực là TS1 và TR4, vì dễ chăm sóc, kháng bệnh tốt, năng suất cao và ổn định, khả năng phát triển chồi cành (sơ cấp và thứ cấp) mạnh…”. Với quyết tâm và nỗ lực cao nhất của mình, chỉ trong vòng 4 năm (từ 2003 - 2007), toàn bộ diện tích 15ha cà phê của ông đã được cải tạo xong (ghép hoặc trồng lại bằng giống mới) và đã cho năng suất ổn định trong mấy năm nay. Ông cho biết: “Trước đây, tuy trồng cà phê bằng giống cũ, nhưng tôi đầu tư và chăm sóc, thâm canh kỹ lưỡng mà năng suất chỉ đạt bình quân 3 - 4 tấn/1ha. Bây giờ, sau khi cải tạo xong, cũng với mức đầu tư như thế, nhưng năng suất cà phê bình quân đạt tới 6 - 8 tấn nhân/1ha/1 vụ”. 
 
“Vua” bơ
 
Ông Nguyễn Đăng Trung cho biết, vào năm 2002, ông mua 300 cây bơ giống tại Trung tâm Nghiên cứu, thực nghiệm cây công nghiệp và cây ăn quả tỉnh Lâm Đồng để trồng xen với cà phê. Ban đầu chưa có kinh nghiệm, tỷ lệ cây bơ sống và phát triển rất thấp. Vừa làm vừa học hỏi, ông đã nhanh chóng rút kinh nghiệm trồng bơ. Sau khi trồng thử các giống bơ đầu dòng: BLD 04, BLD 05, BLD 06, BLD 07, BLD 034, BLD 036…, ông đã chọn và trồng xen đại trà với trên 2.500 cây bơ BLD 05, BLD 034 và BLD 036. Đến năm 2009, tại trang trại của mình, ông đã trồng xen hoàn chỉnh trên diện tích 10ha cà phê với cây bơ, hầu hết là giống BLD 036 (mật độ 260 cây bơ/1ha). Theo ông: “Đây là giống bơ thích hợp ở vùng đất này và cho năng suất cao, chất lượng ngon hảo hạng”. Ông Trung cho biết thêm, hiện nay, trên 10ha bơ trồng xen với cà phê đã cho thu hoạch. Năm vừa rồi, ông đã thu được 70 tấn bơ và bán với giá 40.000 đồng/1kg (tương đương với giá cà phê). “Nếu độc canh cà phê trên diện tích 10ha, thì mỗi năm chỉ cho thu hoạch 70 tấn cà phê nhân. Khi trồng xen thêm cây bơ, cây cà phê cũng không bị ảnh hưởng gì, vì 10ha cà phê cũng cho sản lượng 70 tấn nhân. Tuy nhiên, lợi thế là cây bơ vừa làm cây che bóng mát cho cà phê vừa cho thêm sản lượng 70 tấn bơ quả và khoản thu nhập thêm từ cây bơ cũng tương đương với 70 tấn cà phê nhân” - ông Trung chia sẻ. Trong tương lai gần, khi cho thu hoạch ổn định, mỗi năm, cây bơ sẽ cho ông sản lượng trên 200 tấn quả. Như thế, cây bơ ghép của trang trại ông là một nguồn thu rất đáng kể.
 
Theo ông Nguyễn Đăng Trung, sản phẩm bơ quả trồng ở vườn nhà ông chủ yếu được bán tại các nhà hàng và các siêu thị ở các thành phố, không chỉ ở địa phương, ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam mà còn ra tới Hà Nội. Sau một thời gian bị lãng quên, cây bơ bắt đầu “hồi sinh” và thị trường bơ quả cũng bắt đầu mở rộng dần, không chỉ ở trong nước, mà hiện nay ra đến thị trường Nhật Bản, Mỹ và Indonesia… Hiện nay, vấn đề quan trọng mà ông Nguyễn Đăng Trung quan tâm nhất là đang cố gắng góp sức với địa phương xây dựng thương hiệu “Bơ Lộc Đức”.
 
Đến bây giờ, “tiếng tăm” của vợ chồng ông Nguyễn Đăng Trung đã “nổi” khắp vùng. Vợ chồng ông nổi tiếng không chỉ với cách làm đem lại hiệu quả cho riêng mình, mà trang trại của ông còn là một “địa chỉ” tin cậy, đã cung cấp các loại cây giống cà phê cao sản, giống bơ chất lượng cao đầu dòng và là địa chỉ tin cậy của nhiều đoàn, nhiều nông dân tại địa phương và các nơi khác đến tham quan, trao đổi, học tập kinh nghiệm ghép, cải tạo, trồng và chăm sóc cây cà phê và cây bơ. Mỗi năm, vườn ươm của ông Nguyễn Đăng Trung bán ra thị trường trong và ngoài tỉnh khoảng 100 ngàn cây giống cà phê cao sản, 100 ngàn cây bơ giống chất lượng cao đầu dòng và 1 - 1,5 triệu mầm chồi cà phê giống… Ngoài ra, với những nông dân có nhu cầu, vợ chồng ông đưa mầm chồi cà phê đến tận nơi và trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật ghép, kinh nghiệm chăm sóc. 
 
Mới đây, ông Nguyễn Xuân Tiến - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, đến thăm trang trại của ông Nguyễn Đăng Trung. Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh khen ngợi, đánh giá rất cao và mong muốn ông Nguyễn Đăng Trung tiếp tục làm “đầu tàu” để giúp nông dân cùng phát triển. Bởi, chính ông là “nguồn nhân lực chất lượng cao”.